Lấy một thí dụ gần đây nhất, ta sẽ thấy những lập luận trên là có cơ sở. Dịch giả Trịnh Lữ, người chuyển dịch hầu hết các tác phẩm của Pôn Ô-xtơ và một số kiệt tác khác sang tiếng Việt như Rừng Na-uy(Ha-ru-ki Mu-ra-kami) hay Đại gia Gasby(X.Phít-giơ-ran)... trong khoảng ba, bốn năm trước thì nay gần như đã vắng bóng.

Có thể ông không còn đam mê dịch nữa, hoặc giả ông thấy việc dịch với ông chẳng có tích sự gì! Hay trường hợp nhà giáo Đặng Anh Đào (tương tự là các nhà giáo - dịch giả Đặng Thị Hạnh, Lê Hồng Sâm...) công việc dịch sách kéo dài gần như suốt cuộc đời nghiên cứu và giảng dạy của các bậc thầy này. Đương nhiên, việc dịch không phải là "nghề" chính của họ, và cũng chẳng phải là cách để họ kiếm tiền, về cuối đời các nhà giáo này vẫn miệt mài dịch ắt chỉ là "cuộc chơi quý tộc của các bà" với cuốnBên phía nhà Swann (cuốn tiểu thuyết in gần đây của M.Prút, nhằm giúp cho người dân tiếp cận những tri thức quý giá của nhân loại mà thôi.

Nói như thế để thấy rằng, dịch thuật là nghề xa xỉ mà không phải ai cũng đủ điều kiện để dấn thân hoặc duy trì nhiệt huyết với nó. Vấn đề ở đây, không xuất phát từ việc được trả bao nhiêu tiền cho một bản dịch hay được tung hô đến mức nào, mà đơn giản chỉ vì, dịch muôn đời vẫn là sự "gánh chữ thuê", mà cái công việc lao động nhọc nhằn đó thì rất chóng nản, chóng chán. Bản chất của ngôn từ là luôn quy tụ trong nó những giá trị văn hóa của dân tộc mà nó thuộc về. Ngôn từ luôn mang trong nó những giá trị khu biệt tự thân được đúc kết hằng bao đời trong môi trường văn hóa sinh ra nó.

"Sự bí hiểm ngôn từ" tập trung nhất ở thơ và đương nhiên cả văn xuôi lẫn kịch cũng đều có cùng đặc tính này. Vì lẽ đó, nhiều người quan niệm thơ là tiếng nói của thần thánh. Chúng ta có thể yêu thơ, cảm nhận được thơ nhưng lại không có mấy người có thể sáng tác thơ. Tương tự với dịch thuật. Khi một ai đó đạt đến ranh giới "dịch giỏi", có nghĩa khả năng thâm nhập và chuyển hóa ngôn ngữ giữa nguồn và đích của họ đã đạt đến mức cao thì họ sẽ tự thấy sự bất lực của bản thân trước "nghĩa" và "văn hóa" được đong đầy vô thức trong ngôn từ.

Kinh nghiệm từ bản thân chúng tôi khi dịch văn chương đã để lại những suy nghĩ về vấn đề "nan giải ngôn từ này". Chẳng hạn, khi tiến hành dịch Ông già và biển cảcủa E.Hê-minh-uây, bản thân chúng tôi phải nỗ lực rất nhiều để vượt qua rào cản không chỉ là ngôn từ và cái công việc câu cá cũng như mớ từ ngữ nội tâm quái dị của ông lão Xan-ti-a-gô mà còn phải đối mặt với thách thức là năm bản dịch trước đó về tác phẩm này. Đương nhiên khi dịch, chúng tôi không đọc tham khảo các bản dịch này. Để dịch được "công việc" và "tâm trạng" của ông lão chúng tôi phải "nhập vai" và "tưởng tượng" ra cách ông ta câu, cách ông ta nói, cách ông ta nghĩ như thế nào... nhưng cái khó là tất cả chuyện đó không thể chuyển tải lại bằng giọng thuần Việt, bởi nếu thế thì "chất Hê-minh-uây" sẽ mất, vậy nên chúng tôi phải tìm cách "bám sát cú pháp văn bản", diễn tả tối đa cái không khí Hê-minh-uây qua lối dùng từ, đặt câu của chính tác giả. Nhưng một trở ngại vấp phải là có những cấu trúc cú pháp không hề cho phép chuyển nghĩa tương đương sang tiếng Việt (trong trường hợp ngôn ngữ mang tính thẩm mỹ của văn chương).

Do vậy, "tính chất Việt" sẽ được sử dụng để biến đổi nó cho phù hợp phong cách cảm thụ Việt. Xét về mặt thẩm mỹ, việc biến đổi này là cần thiết. Nền tảng văn hóa Mỹ tạo ra cấu trúc câu văn Hê-minh-uây, nhưng nền tảng đó lại cách xa với nền tảng văn hóa Việt mà việc dịch thì đích đến không phải cho "người Mỹ đọc" mà là cho "người Việt đọc". Vấn đề ở đây là bao nhiêu phần trăm phong cách Hê-minh-uâysẽ được giữ lại? Và liệu người dịch lẫn người đọc có đong đếm được không?

Câu trả lời đâu dễ. Như thế dịch có nghĩa là "giết" đi một chút nào đó từ "gốc" và "khai sinh" một chút gì đó từ "đích đến". Hiểu như thế thì đã có một câu nói mà ai cũng biết được đúc rút từ nguyên tắc này: "dịch là viết lại (hoặc sáng tạo lại)". Xem ra, vai trò và tầm quan trọng của người dịch rất lớn. Dịch giả Dương Tường có lần đề nghị đặt tên người dịch ngang hàng tác giả với nhà văn. Đề xuất này không phải không có cơ sở. Tuy nhiên, cho dù có làm như thế thì vẫn còn một tâm lý tiếp nhận phổ biến "chỉ quan tâm đến tên tác giả".

Vậy nên, những sáng tạo của người dịch hầu như không được người đọc ghi nhận, có khi người đọc không cần biết người dịch đó là ai. Điều này lại là nguyên nhân nữa cho sự "nản chí dịch".

"Giọng chủ đạo" là yếu tố sống còn của một bản dịch. Nếu không chú ý "giọng" này thì bản dịch sẽ không được thống nhất về giọng. Nó sẽ khiến cho bản dịch kém hay và thậm chí là nghĩa có khi bị hiểu lệch. Nhưng bằng cách nào để người dịch chọn được "giọng chuẩn"? Điều này cũng cực khó, tùy thuộc vào trực giác thẩm mỹ của người dịch. Mà trực giác này là do trời phú, con người chẳng thể nào học để biết được. Vậy nên, không ít người dịch nản chí khi phát hiện ra mình không có được thứ gia sản thần bí này.

Xem ra, bàn mãi về dịch sẽ chẳng có điểm dừng, bởi, bản chất dịch chính là tương tác, giao thoa văn hóa và việc lựa chọn tương đương ngôn ngữ bao giờ cũng được tính toán đến "giọng", mà "giọng dịch" thì vốn đã rất bất khả tri. Chỉ cần chọn một đại từ hoặc một tính từ thay thế khả dĩ nào đó trong một câu mở đầu nhất định, thì nghĩa và âm hưởng của tác phẩm sẽ lệch đi rất nhiều so với các cách chọn lựa khác và thậm chí là ngay cả với văn bản gốc. Thế nhưng, người thực hành dịch sẽ luôn hào hứng vì đây là công việc sáng tạo, nhưng lại chỉ sáng tạo một phần, thù lao được trả không nhiều và lại dễ bị trở thành đề tài bình phẩm cho những người khác... Tôi gọi tất thảy đó chính là đặc thù "nản chí" của nghề dịch. Cái nghề mất rất nhiều công sức nhưng lại chẳng ghi được tên mình trong người đọc, cái nghề đầy bất trắc và trên hết cần phải có được sự thụ hưởng ân sủng thần bí... Nhưng sự "nản chí" đó lại có sức cám dỗ rất lớn với những ai muốn thử sức nhận thức của mình trước cánh cửa ngôn ngữ - lối dẫn vào văn hóa và tâm thức của một con người, một cộng đồng.

Dịch giả LÊ HUY BẮC
Nguồn: Nhân dân